• Hotline: 0878198555
  • Email: luathoangphat@gmail.com

Che giấu tội phạm là gì? Khi nào người che giấu tội phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự.


Che giấu tội phạm là gì? Khi nào người che giấu tội phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tại điều 18 Bộ luật Hình sự quy định về  việc “Che giấu tội phạm”, như sau:

“Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này”.

Theo đó, việc che giấu tội phạm có thể là những hành vi như:
+ Che giấu người phạm tội: Cho người phạm tội trốn trong nhà mình hoặc nơi khác hoặc biết người phạm tội đang ở đâu nhưng không khai báo và tìm mọi cách che giấu người phạm tội.
+ Che giấu: Giấu vết, tang vật của tội phạm.
+ Hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm: Thể hiện ở các hành vi như cố tình cung cấp các thông tin sai sự thật, xóa bỏ giấu vết của tội phạm, tiêu hủy các công cụ, phương tiện tội phạm…

– Các yếu tố thành tội “Che giấu tội phạm”

Khách thể:

Tội phạm tội thuộc nhóm xâm phạm tội phạm được quy định trong BLHS. Theo đó, khách hàng của tội phạm phạm hoạt động tư pháp nói chung và tội phạm che giấu tội phạm nói riêng là quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân và hoạt động bình yên của các cơ quan tư pháp.

Với việc xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan này, hành vi che giấu tội phạm ngoài xâm phạm hoạt động tư pháp đồng thời còn xâm hại gây hại đến nhiều quan hệ xã hội khác được luật bảo vệ. Đó là các quan hệ nhân thân, chủ sở hữu cũng như các quan hệ xã hội khác.

Mặt khách quan:
Về hành vi khách quan, hành vi che giấu tội phạm được hiểu là hành vi che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Che giấu được hiểu là giấu đi, không để lộ ra ngoài cho người khác biết. Che giấu người phạm tội là giấu, dùng thủ đoạn bao che người phạm tội, không để người khác phát hiện ra như cho người đó lẩn trốn, cho mượn chỗ ở, phương tiện, công cụ, thiết bị để hỗ trợ lẫn trốn. Che giấu dấu vết tội phạm là xóa, tiêu hủy, làm thay đổi các dấu vết do tội phạm gây ra như lau dọn hiện trường, rửa sạch công cụ, phương tiện… Che giấu tang vật là giấu đi, tiêu hủy, hủy bỏ vật, tiền, hàng hóa, công cụ, phương tiện phạm tội liên quan. Ngoài hành vi che giấu, tội “Che giấu tội phạm” còn gồm các hành vi khác nhằm cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm như cung cấp thông tin giả, ngụy tạo chứng cứ, dấu vết giả; phá hủy, làm hư hỏng công cụ phục vụ hoạt động nghiệp vụ, làm xấu đi tình trạng, điều kiện tiến hành các hoạt động phát hiện, điều tra, xử lý…

Chủ thể:
Chủ thể của tội “Che giấu tội phạm” là chủ thể thông thường. Chỉ cần đáp ứng điều kiện về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (cụ thể là từ đủ 16 tuổi trở lên) và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 389, chủ thể của tội phạm này phải “không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 BLHS”. Khoản 2 Điều 18 là trường hợp che giấu tội phạm nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự do có mối quan hệ đặc biệt thân thiết giữa người che giấu và người được che giấu. Đây là dấu hiệu mới được bổ sung trong BLHS, cụ thể gồm: ông, bà (nội hoặc ngoại); cha, mẹ (đẻ hoặc nuôi); con (đẻ hoặc nuôi), cháu; anh chị em ruột (cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha), vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, khi tội phạm được che giấu là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng nhất định thì nghĩa vụ pháp lý phải được đặt lên trên nghĩa vụ đạo đức nên không được loại trừ trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan:
Bản thân hành vi che giấu đã thể hiện lỗi của chủ thể là cố ý, chủ thể nhận thức rõ hành vi mà mình quyết định thực hiện là hành vi có khả năng che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật hoặc hành vi của mình có khả năng cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Mặc dù nhận thức được nhưng chủ thể vẫn quyết định thực hiện hành vi.

Những hành vi nêu trên chỉ trở thành hành vi khách quan của tội “Che giấu tội phạm” nếu tội phạm được che giấu thuộc các tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 389. Ngoài ra, người có hành vi trên phải thỏa mãn dấu hiệu “không hứa hẹn trước”. Đây là dấu hiệu phân biệt với người phạm tội có vai trò đồng phạm nếu hứa hẹn trước sẽ che giấu tội phạm.

– Trách nhiệm hình sự của tội “Che giấu tội phạm”:
Điều 389 Bộ luật Hình sự quy định trách nhiệm hình sự của tội “Che giấu tội phạm” như sau:
+ Trường hợp che dấu tội phạm thuộc các tội được quy định tại khoản 1, điều 389 Bộ luật Hình sự thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
+ Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

– Người che giấu tội phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự khi nào?
Theo quy định tại khoản 2, điều 18 Bộ luật Hình sự thì người che giấu tội phạm là người thân thích của người phạm tội là: “ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng” không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trừ trường hợp che giấu người phạm tội “xâm phạm an ninh quốc gia” thì những người thân thích của người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

(Bài viết này thuộc về Văn phòng Luật sư Hoàng Phát, vui lòng trích nguồn khi sử dụng. Điều khoản được trích dẫn có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc. Mọi ý kiến thắc mắc về bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: luathoangphat@gmail.com)

DỊCH VỤ NỔI BẬT

Zalo Phone Messenger