Quy định “gửi lại yêu cầu thi hành án” là quy định mới tại Luật THADS 2025, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026.
Luật Thi hành án dân sự 2025 được thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV vừa qua, và sẽ chính thức có hiệu lực từ 1-7-2026 với nhiều điểm mới. Một trong số đó là quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án (THA).
Theo đó, tại khoản 4 Điều 38 đã bổ sung quy định: Hết thời hạn hai năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện THA và đã xác minh định kỳ (xác minh lại) mà không có thông tin mới về điều kiện THA của người phải THA thì cơ quan THADS gửi lại yêu cầu THA. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan THADS THA trở lại theo quy định tại Điều 34 khi người phải THA có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng THADS THA theo quy định tại Điều 31.
Theo Khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025, trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan THADS đã gửi lại yêu cầu THA sẽ không tính thời hiệu yêu cầu THA.
Theo đó, khi tổ chức THA mà người phải THA chưa có điều kiện THA (không có tài sản/thu nhập để thi hành), cơ quan THADS sẽ ra quyết định chưa có điều kiện THA. Trong 2 năm tiếp theo, chấp hành viên tiếp tục xác minh định kỳ (xác minh lại). Nếu hết 2 năm mà vẫn không có thông tin mới về điều kiện THA của người phải THA, thì cơ quan THADS gửi lại (trả lại) yêu cầu THA cho người được THA.
Việc gửi lại yêu cầu THA không có nghĩa là cơ quan THADS trả hết hồ sơ theo nghĩa thông thường, mà đây là một thủ tục pháp lý kết thúc giai đoạn tổ chức THA do người phải THA chưa có khả năng thi hành sau 2 năm đã xác minh lại mà không có kết quả mới.
Khi người phải THA có điều kiện THA, đương sự có quyền yêu cầu THA trở lại để cơ quan THADS hoặc Văn phòng THADS tiếp tục tổ chức thi hành theo quy định. Nếu trước đó đã THA được một phần, thì khi yêu cầu THA trở lại, đương sự chỉ yêu cầu đối với phần nghĩa vụ còn chưa thi hành xong.
Điều 38 Luật Thi hành Dân sự 2025 quy định như sau:
“Điều 38. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
b) Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao cho người khác nuôi dưỡng hoặc chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao nuôi dưỡng;
d) Thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự không có thỏa thuận khác; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này;
đ) Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
e) Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật này nhưng sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
g) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật này mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và người được thi hành án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
h) Tài sản của người phải thi hành án đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm cho khoản nợ xấu theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà người phải thi hành án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án.
2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.
4. Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.
Nguồn: Tổng hợp
Bài viết cùng chủ đề
- Điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài mới nhất
- Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và thực hiện dự án đầu tư mới nhất
- Điểm mới trong thủ tục cấp, điều chỉnh và thu hồi giây chứng nhận đăng ký đầu tư như thế nào ?
- Quy định mới về hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo quy định pháp luật mới nhất.

